|
Trải Rộng Lòng Từ |
Tác giả: Bhikkhu Visuddhàcàra
Dịch Giả: Nhung Gia |
I. Tình yêu
Yêu là gì? Giá trị của nó là gì? Có bao nhiêu thứ tình yêu? Tình yêu trong
lời Phật dạy có khác với tình yêu hiểu theo nghĩa thông thường không? Ở cái
buổi đầu tiên chúng ta hiểu tình yêu là gì? Ðây là những vấn đề chúng ta có
thể bàn luận thậm chí trước khi chúng ta bắt đầu nói hay viết về tình yêu.
Người ta dùng rất nhiều từ ngữ để nói về tình yêu. Chúng ta viết về nó, nói
về nó (nó là phần thiết yếu của từ ngữ hàng ngày), đọc về nó và coi nó như
là điều rất cốt yếu trong cuộc sống. Chúng ta có những câu nói: "Tình yêu
mang nhiều vẻ đẹp lộng lẫy, huy hoàng", "Yêu nghĩa là không bao giờ nói câu
hối tiếc", "Tình yêu làm cho trái đất quay tròn" và có một khẩu hiệu như vầy:
"Make love, not war" (làm tình, không tạo chiến tranh).
Bây giờ chúng ta trở lại vấn đề: "Tình yêu là gì? ". Tự điển định nghĩa tình
yêu theo nhiều cách khác nhau nó như là cảm giác ấm áp, dịu dàng, cảm giác
yêu thương sâu kín và trìu mến đối với người đó hay là sự yêu mến muốn gắn
bó chặt chẽ, sự hiến dâng đến một người hay những người mình yêu; cảm giác
ràng buộc của tình anh em và lòng thiện cảm đến tất cả mọi người, thường là
tình cảm yêu thương nồng nhiệt thiết tha của người này đối với người khác,
bằng sức lôi cuốn của nhục dục và giao phối.
Ðể phù hợp chúng ta sẽ bắt đầu thảo luận ở đây về định nghĩa của một loại
tình yêu. Tình yêu nó là cảm giác nồng thắm, dịu dàng đối với kẻ khác, ước
muốn họ được hạnh phúc. Nó là cảm giác dịu dàng, chăm sóc, và âu yếm; tình
yêu không ích kỷ, không cần mong đợi có được đáp lại hay không; nó là tình
cảm cao quí, vượt qua mọi hàng rào trở ngại của tín ngưỡng tôn giáo, giới
tính, chủng tộc, quốc gia... Nó trải rộng đến tất cả mọi loài sinh vật sống
trên vũ trụ, bao gồm: côn trùng, cá, động vật và những thức thể.
Tình yêu không phải là những mong muốn ti tiện hay tình cảm yêu thương gắn
bó, chặt chẽ với một người; nó ngoài ý muốn nhục dục. Nó không phải là sự
thỏa mãn về khoái lạc hay tình dục. Ðúng như vậy, chúng ta phải hiểu biết
rằng giữa hai người yêu nhau phải có tình yêu, giữa những người chồng và
những người vợ. Trong mối quan hệ giữa họ phải có sự chăm sóc, âu yếm và dịu
dàng. Tình yêu của họ không thể có vụ lợi. Ðó là sự pha trộn của sức lôi
cuốn mạnh mẽ về khoái lạc hay nhục dục.
Tình yêu là sự chịu trách nhiệm về pháp lý của sự thay đổi, nếu một đối
tượng không đáp ứng hay không thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn nhục dục với
đối phương. Như thế điều này cho thấy rằng tình yêu là sự phụ thuộc nhau,
giới hạn và chủ quan. Chúng ta coi nó là một tình cảm thấp hèn hay kém cao
quí, không cao thượng, hoàn toàn là sự ích kỷ và mơ hồ. Tất cả những điều
này sẽ được chúng tôi thảo luận dưới đây.
Tình yêu dựa trên mặt chủ quan, nó cũng thích hợp để thảo luận về vấn đề của
lòng ham muốn nhục dục. Thế lòng ham muốn nhục dục là gì? Một lần nữa tự
điển định nghĩa rằng nó như là một sự thèm muốn để thỏa mãn những cảm giác,
sự tham muốn về thể xác, thèm muốn tình dục; lòng tham muốn tình dục dữ dội
đặc biệt như là đang tìm kiếm sự thỏa mãn không thể kiềm chế được, không sao
cưỡng lại lòng thèm khát. Vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng tình yêu giữa
hai người ở một chừng mực nhất định của lòng ham muốn nhục dục sẽ không thể
tách rời nhau, chính tham muốn tình dục gắn liền với lòng khao khát được
thỏa mãn những cảm giác, và đó như chúng ta biết cảm giác đó rất mãnh liệt
và nó đang chế ngự, làm mù quáng dâng lên tình cảm yêu thương cuồng nhiệt và
thậm chí lại là nỗi thất vọng. Nó có thể dâng lên cơn điên tiết vì ghen
tuông, giận dữ và thất vọng khi người yêu phụ bạc hay khi tình yêu không
được đáp lại.
Và vì vậy một lần nữa, đây không phải là loại tình yêu chúng ta sẽ thảo luận
ở đây, vì đây là tình yêu vụ lợi và chinh phục để đạt được những ước muốn và
lòng thỏa mãn. Tuy nhiên, không thể phủ nhận có những cảm giác âu yếm, dịu
dàng, chăm sóc và yêu thương giữa hai người yêu nhau, giữa những người chồng
và những người vợ. Thậm chí họ có thể phụ thuộc, chịu tác động nhau và bằng
sức lôi cuốn của nhục dục. Có thể đang khởi đầu từ một loại tình yêu cao quí,
họ cũng có thể yêu trong sự hiểu biết hơn về một loại tình yêu cao quí hơn
và cuối cùng là cảm kích và phát triển một loại tình yêu mà vượt qua mọi
hàng rào trở ngại, sự giới hạn và hoàn cảnh.
Vì vậy, loại tình yêu mà chúng ta sẽ thảo luận dưới đây là tình yêu mà đang
tìm kiếm và có sự vui thích trong việc đem lại hạnh phúc cho người khác. Nó
là tình cảm cao quí, không ích kỷ, luôn mong đợi những kết quả tốt đẹp như
những gì chúng ta đã ước muốn, không mong được đáp lại, thậm chí không cần
sự cảm kích hay lòng biết ơn. Cho tình yêu chỉ vì lòng khoan dung, tình yêu
được tìm thấy trong sự vui thích khi thấy niềm vui và hạnh phúc lóe lên
trong mắt hay trên gương mặt của người khác (được xem như là thành quả của
tình yêu và sự chia xẻ). Vì vậy có thể nói rằng chính đó là phần thưởng đầy
ý nghĩa, khiến tất cả chúng ta cố gắng hơn và nó được đánh giá như là: "thành
quả của tình yêu". Luôn ước mong cho kẻ khác được mọi điều tốt lành, những
bông hồng đỏ thắm luôn chào đón trên suốt chặng đường của họ và cầu mong cho
họ không phải chịu những tổn thương hay đau khổ.
Vì vậy "công thức tình yêu" ở người Phật-tử truyền thống, chúng ta ước mong
rằng: "Tất cả chúng sanh đều mạnh khỏe và hạnh phúc, tránh khỏi sự tổn hại
và nguy hiểm. Thân, tâm đều an lành, không phải chịu đau khổ. Cầu mong mọi
người quan tâm, chăm sóc nhau tràn đầy niềm hạnh phúc".
Chính đời sống của Ðức Phật là một ví dụ điển hình của tình yêu bao la và
lòng thương mến. Nó vượt lên trên hai đức tính: Mettà (tình yêu, Từ) và
Karunà (lòng thương yêu trắc ẩn, Bi), và Ngài đã từ bỏ cuộc sống thế gian
đầy xa hoa, vật chất và khoái lạc mà Ngài đang sống để đi tìm con đường giải
thoát, chấm dứt mọi sự đau khổ. Sau khi tìm được giải pháp, Ngài chia xẻ nó
đến tất cả chúng sanh, mong muốn họ nếm được mùi vị hạnh phúc của sự vô-não,
hạnh phúc của Niết-Bàn mà họ có thể đạt được trong đời sống của mỗi người
qua cái tâm trong sạch.
Và Ðức Phật đã tận tình khuyên bảo tất cả những môn đồ của Ngài hãy tiến xa
và ban truyền lan rộng những lời dạy của Ngài đến được nhiều gười để mà họ
có thể cũng nếm được mật ngọt củasự giải thoát. Chính Ngài là một bậc thầy
vĩ nhân, sau khi giác ngộ Ngài đã đi hoằng pháp không biết mệt mỏi khắp nơi
trên đất nước Ấn Ðộ, Ngài thuyết giảng cho mọi tầng lớp xã hội trong suốt 45
năm cho đến khi Ngài nhập Niết bàn ở tuổi 80.
Ðức Phật khuyến khích những tăng sĩ và môn đồ của Ngài hãy thường xuyên
chiếu tỏa lòng yêu thương nhân ái. Ngài đề nghị với họ hãy để tràn ngập và
lan khắp mọi nơi trên trên thế giới với một tâm hồn yêu thương mà như thể
là: "đang tiến xa hơn, lan rộng khắp nơi và vô tận". Bất cứ trong tư thế nào,
dù đi, đứng, ngồi, nằm, Ngài cũng khuyến khích các môn đồ hãy thường xuyên
rải tâm từ, bác ái đến tất cả chúng sanh.
Trong giáo pháp của Ðức Phật, không có chổ trống cho sự thù hằn hay ganh
ghét, thậm chí cho dù một chút ít mảy may nào. Loại tình yêu như thế là một
tình yêu tối cao và tối thượng. Thật không dễ dàng yêu một cách trọn vẹn
toàn tâm, toàn ý, không mong đợi bất cứ sự đền đáp nào. Chắc chắn rằng đó là
việc cực kỳ khó khăn để chúng ta phát triển tình yêu này đến mức độ đạt được
sự trong sạch, thanh tịnh như Ðức Phật – tình yêu bao phủ lên toàn chúng
sanh, nó không bừng cháy hay chai sạn mà nó lắng dịu và thậm chí được tôi
luyện bằng trí tuệ và sự bình thản.
Chúng ta bắt đầu trau dồi loại tình yêu này khi chúng ta luyện tập thiền
định lòng yêu thương nhân ái và minh sát Vipassanà. Mettà hay thiền định
lòng yêu thương nhân ái là vũ khí đặc biệt có hiệu quả để chống lại sự thù
hằn và nóng giận. Và qua luyện tập thiền định Vipassanà, tình yêu và lòng
thương cảm cũng có thể đơm nụ, nở hoa khi chúng ta đồng cảm và gắn chặt vận
mệnh với nhau mà tất cả chúng ta đó đều là những người bạn đồng hành khổ đau
trong samàra, hay nói một cách khác chúng ta đều là những người cùng hội
cùng thuyền. Ở những trang sau chúng tôi sẽ gói gọn vấn đề thảo luận của
chúng tôi ở phần sự phát triển của Mettà. Luyện tập thiền định Vipassanà
cũng được chúng tôi đề cập ở quyền sách khác tựa đề "Hoan nghênh đến
Vipassanà".
II. Sự trau dồi lòng yêu thương nhân từ (Thiền Từ Bi)
Thiền định Metta, hay lòng yêu thương nhân từ đặc biệt thích hợp cho những
ai có tính khí nóng giận, chẳng hạn như một người dễ dàng nổi nóng, người
nung nấu hận thù và tìm thấy sự khó khăn trong việc quên đi hay tha thứ, hay
người nuôi dưỡng sự thù oán và căm thù. Ðối với người có tính khí nóng như
thế sẽ bị phiền muộn do nóng giận, họ chỉ tìm thấy được hạnh phúc khi tính
khí của họ được luyện tập đều đặn. Và thậm chí ngay cả những ai bình tĩnh
khi luyện tập thiền định này vẫn có được nhiều lợi ích, vì tất cả chúng ta
đều thường xuyên cảm thấy khó chịu hay bực mình và sau khi luyện tập sẽ giúp
chúng ta giữ được thanh tịnh hơn.
Bên cạnh đó cũng có những lợi ích khác mà chúng tôi sẽ thảo luận sau này.
Mặc dù giờ đây chúng tôi đang nói về một lợi ích trong những lợi ích nhưng
sự luyện tập Mettà, cuối cùng sẽ phát triển một loại tình yêu đó là yêu chỉ
vì yêu, chỉ vì làm giảm bớt nổi đau khổ của kẻ khác và đẩy mạnh sự thiện ý,
cổ vũ và hạnh phúc. Những lợi ích chúng tôi nói ở đây, sau này sẽ trở thành
thứ yếu hay tầm thường. Nhưng ở thời điểm khởi đầu chúng ta xem như là động
cơ để tiếp tục luyện tập.
Một trong những đề mục của thiền định là tập trung hay chỉ định một đề mục
trong đầu. Khi tâm đã định ở một đề mục, nó sẽ ổn định và trở nên bình tĩnh
và yên lặng. Cùng lúc đó khuynh hướng phóng tâm cũng được ngừng lại, ít nhất
trong thời gian tâm định hay bị cuốn hút trong đề mục. Tâm đang rất mát mẻ
và dễ chịu khi chúng ta tiến đến cảm giác yên tĩnh, yên tĩnh không suy nghĩ,
sự yên tĩnh trong đề mục chỉ định, chỉ tập trung trong đề mục đó thôi. Tâm
trở nên phẳng lặng giống như ngọn đèn lặng gió cháy đều đều không hề lóe lên.
Dĩ nhiên sự trải qua cảm giác yên lặng đó chỉ có chính bản thân anh ta được
nếm để hiểu và hưởng thụ nó mà thôi.
Nguyên tắc kế tiếp là chỉ định một đề mục ở trong đầu, định nó trên đề mục
thiền định. Khi thiền định tình yêu và lòng nhân ái, đề mục là khái niệm
tình yêu, ước muốn tất cả chúng sanh đều hưởng được hạnh phúc. Có nhiều
phương pháp khác nhau, bạn có thể dùng để rải lòng yêu thương nhân từ Mettà
và xem nó như là một đề mục. Ở đây chúng tôi sẽ thảo luận một trong những
phương pháp mà có thể luyện tập thành công.
Phương pháp đầu tiên được diễn đạt trong 4 dòng sau:
* Hãy thư giản, cố gắng thoát ra khỏi sự tổn hại và nguy hiểm.
* Thư giản để thoát ra khỏi sự đau đớn của tinh thần.
* Thư giản để thoát ra khỏi sự đau đớn của thể xác.
* Ðể cho chính bản thân mình được hạnh phúc.
Bốn dòng này rất dễ nhớ, người hành thiền cần phải niệm đi niệm lại thuộc
lòng trong đầu (chỉ niệm trong đầu thôi không cần phải nói lớn). Cái tâm
cũng giống như máy vi tính và ý nghĩ là để lập trình cho cái tâm với những ý
nghĩ ước muốn những điều tốt đẹp đến với mọi người. Vì vậy, có thể nói rằng
càng tràn ngập những ý nghĩ này, trong tim càng tràn ngập lòng yêu thương.
Vì khi bạn niệm, tâm bạn sẽ bắt đầu tập trung vào đề mục yêu thương, ước
mong hạnh phúc đến với mọi người. Những ý nghĩ không liên quan hãy tống khứ
nó ra hay tránh xa và cuối cùng chúng không có lối vào. Lúc đó tâm sẽ được
định, đề mục đã được chỉ định và bạn sẽ cảm nhận được những trạng thái đặc
biệt tĩnh, yên lặng mà chúng tôi đã đề cập trước đây.
Trước khi tiếp tục chúng tôi cần giải thích nghĩa của bốn dòng mà chúng ta
đang niệm. Một khi đã hiểu được tầm quan trọng của chúng, chúng ta sẽ tự
nhiên hiểu được nghĩa và ngụ ý của chúng khi chúng ta niệm hay rưới những ý
nghĩa yêu thương tốt đẹp.
1) Hãy thư giản cố gắng thoát ra khỏi sự tổn hại và nguy hiểm.
Có hai loại tổn hại và nguy hiểm: tổn hại và nguy hiểm bên trong – tổn hại
và nguy hiểm bên ngoài. Tổn hại và nguy hiểm bên trong bao gồm những ô trượt
của chúng ta như: tham lam, oán thù, lừa dối, sự lo lắng, mối băn khoăn ...
là nguyên nhân gây cho chúng ta nhiều đau đớn về tinh thần. Tổn hại và nguy
hiểm bên ngoài liên quan đến những nguy hiểm mà chúng ta có thể gặp bên
ngoài như: tai nạn, thiên tai (hỏa hoạn, lũ lụt, sụp lở đất, động đất... )
và từ những người muốn hại chúng ta. Không một ai muốn bị những nguy hiểm
này cho dù xảy ra ở bên trong hay bên ngoài, mặc dù những nguy hiểmbên trong
sẽ dễ sợ hơn.
Sự ô trượt thậm chí được xem còn tệ hại hơn những nguy hiểm bên trong. Ðã
nói là phải nghe, chính chúng ta là những kẻ thù nguy hiểm nhất đối với
chính bản thân chúng ta. Nếu chúng ta có thể vượt qua, chiến thắng những ô
trượt bên trong chúng ta có thể đương đầu với những chướng ngại bên ngoài mà
không hề sợ hãi hay lo lắng.
2) Thư giản để thoát khỏi sự đau đớn của tinh thần.
Nghĩa của câu này rất rõ ràng. Nó bao gồm tất cả những nỗi đau của tinh thần,
từ tinh vi đến thô thiển. Nó bao gồm những nỗi đau như: lo lắng, băn khoăn,
sợ hãi, thất vọng, buồn phiền, chán nản, tuyệt vọng hay bất kỳ những trạng
thái bệnh hoạn của tinh thần mà có thể đưa đến sự rối loạn, thanh thản hay
phải đau đớn cực độ. Không ai muốn phải chịu đau đớn, dằn vặt cả. Chúng ta
muốn luôn được yên tĩnh, bình an và hạnh phúc.
3) Thư giản để thoát ra khỏi sự đau đớn của thể xác.
Lại một lần nữa nghĩa của câu này cũng rất rõ ràng. Nó bao gồm tất cả những
nỗi đau về thể xác từ những đau nhức vặt vãnh của thể xác chẳng hạn như cảm
lạnh, nhức đầu đến những cơn đau nghiêm trọng như ung thư và bệnh tim. Không
một ai muốn phải chịu đau đớn về thể xác cả.
4) Ðể cho chính bản thân mình được hạnh phúc.
Ở đây, chúng tôi muốn nói rằng ngày qua ngày tất cả chúng sanh có thể sống
một cách êm ả và vui vẻ. Tất cả chúng ta cần phải bắt tay vào giải quyết
những chuyện vặt thường ngày và phải có trách nhiệm về nó. Sinh viên cần
phải học trong khi người lớn phải đi kiếm sống. Chúng ta cần phải mối quan
hệ hòa hợp và thân thiện với những người xung quanh ta, chẳng hạn như: những
đồng nghiệp, bạn bè, họ hàng, những thành viên gia đình và những người yêu
mến chúng ta.
Nếu chúng ta không cư xử tốt với họ thì cuộc sống sẽ gặp khó khăn, trở ngại.
Vì vậy, nếu chúng ta muốn được mọi người yêu quí, hãy có ít hoặc chớ có
những mâu thuẩn, và hãy có nhiều thiện chí, thông cảm và hiểu nhau hơn. Sau
đó chúng ta cũng cần hoàn thành tốt nhiệm vụ của chúng ta. Chúng ta cần phải
làm công việc một cách có hiệu quả nếu không thì chúng ta sẽ có rất nhiều
vấn đề rắc rối.
Mặt khác, hàng ngày chúng ta cần phải quan tâm chăm sóc sức khỏe: thể xác và
tinh thần. Vì cơ thể này, chúng ta cần phải ăn, mặc, uống thuốc khi bệnh ...
Những cái này cũng là những chuyệt vặt hàng ngày và chúng ta cần phải tiếp
tục sống và làm chúng một cách bình lặng và vui vẻ. Và cũng cần phải chăm
sóc tinh thần nữa. Chúng ta cần phải tẩy rửa tinh thần bằng cách hành thiền,
thường xuyên luyện tập, trau dồi tư cách đạo đức tốt và thể hiện, cư xử một
cách có trí tuệ.
Vì vậy, khi chúng tôi nói: " Ðể cho chính bản thân mình được hạnh phúc". Ðây
là câu nói hàm ý khái quát bao gồm tất cả những khía cạnh đời sống hằng ngày.
Vì thế bạn có thể đánh giá được rằng bốn dòng bắt đầu từ: "hãy thư giản cố
gắng thoát ra khỏi sự tổn hại và nguy hiểm", là bao gồm khái quát tất cả
những gì mọi người ước muốn. Hiểu rõ, đầy đủ tầm quan trọng của bốn dòng này,
thì sự rải tâm từ của chúng ta sẽ mang nhiều ý nghĩa hơn.
III. Bản thân tự luyện tập
Một người ngồi ở tư thế thiền bình thường là: ngồi khoanh chân trên sàn nhà
với lưng thẳng (hay trên một cái ghế vì người đó không thể ngồi trên sàn nhà).
Mắt nhắm, thư giản toàn thân và nhẩm trong đầu bốn câu (không đọc lớn hay
đọc thành lời chỉ nhẩm trong đầu).
Niệm đi niệm lại bốn câu trong vòng mười phút, ba mươi phút hoặc hơn một
tiếng. Tiếp tục niệm một trăm lần, một ngàn lần, Một trăm ngàn lần, một
triệu lần. Niệm trong vòng bao lâu và bao nhiêu lần điều đó không cần thiết.
Chỉ cần niệm, niệm, niệm mà thôi. Nó chỉ là một cách lập trình ngắn mà thôi.
Chúng ta đang lập trình trong đầu ý nghĩ của lòng yêu thương nhân từ và
thiện ý đến tất cả chúng sanh. Khi chúng ta niệm chúng ta không cần suy nghĩ
nghĩa của những câu này vì chúng ta đã biết được tầm quan trọng của nó rồi.
Một cách tự nhiên và từ từ khi chúng ta niệm cảm giác lòng yêu thương nhân
ái và thiện ý đến tất cả chúng sanh sẽ tràn khắp, lan tỏa trên con người
chúng ta. Chúng ta sẽ tràn đầy cảm giác vô hại, chúng ta không muốn làm hại
hay làm tổn thương người khác hoặc không hề nuôi dưỡng bất kỳ cơn giận dữ
hay ác ý đối với bất cứ người nào. Ðó là một cảm giác thật sự dễ chịu.
Khi chúng ta niệm hay rưới tâm từ bằng cách này tâm sẽ tự nhiên trở nên tập
trung vào một đề mục và lắng dịu. Tâm sẽ trở nên lắng dịu, yên tĩnh và bình
thản. Những câu này có thể tự nó tuôn chảy một cách êm ả giống như máy thu
thanh được bật lên. Thỉnh thoảng vì tâm lắng dịu chúng ta có thể quên niệm
hay chúng ta nhảy sang câu khác. Ðiều đó đương nhiên thôi. Một khi chúng ta
nhận biết chúng ta chỉ phải niệm lại như bình thường. Bằng cách này thiền
định sẽ tự nhiên phát triển. Không cần phải vội vã hay suy đoán trước được
đắc thiền, nó sẽ tự nhiên đến khi bạn đã thuần thục, thuộc lòng công việc.
IV. Thiền định đến như thế nào?
Chúng ta đang rải tâm từ khi chúng ta niệm những dòng chữ trên. Khi niệm đã
thuộc nằm lòng tâm sẽ trở nên tập trung hay định ở một đề mục, chẳng hạn
như: lòng yêu thương nhân từ hay ban rải tâm từ. Lúc đó tâm lang thang dừng
lại và đang ở trạng thái rải tâm từ. Khi tâm lang thang dừng lại là khi
trạng thái suy nghĩ về điều này hay điều nọ, lo lắng, suy ngẫm, suy tính...
dừng lại, tâm định lại, tập trung vào một đề mục. Trong lúc định, tâm yên
tĩnh và an bình sẽ tự nhiên khởi lên. Người ngồi thiền sẽ cảm giác dễ chịu,
nhẹ nhỏm và thoải mái.
Ðó là một cảm giác rất thú vị và hào hứng mà chỉ có người thiền mới nếm
được. Nó làm giảm bớt sự căng thẳng từ thói quen thông thường của tâm là
thường xuyên bị lôi cuốn và bị tiêu hao tinh khí do suy nghĩ, lo lắng hay
băn khoăn. Sự điềm tĩnh này trong thiền định rất êm dịu và không gợi lên
khoái cảm. Ðây là thứ hạnh phúc cao cả hơn mọi thứ hạnh phúc khác mà "thức
thể" của con người được tự do thỏa thích với nó. Ðây là loại hạnh phúc mà
Ðức Phật tán dương – không phải là khoái cảm trần tục để rồi có được quang
cảnh, âm thanh, mùi vị, cảm xúc ... dễ chịu. Khoái cảm này Ðức Phật cho là
thấp hèn và tầm thường và mang đến sự đau đớn cũng như nó sẽ làm tâm bị ô
trượt.
Tuy nhiên, thiền định đạt được cảm giác hạnh phúc hay dễ chịu phải được trải
qua và được hưởng thức. Một khi người hành thiền nếm nó rồi, anh ta sẽ ít bị
lôi cuốn vào những thú vui khoái cảm, ít làm nô lệ của khoái cảm. Nếm được
thứ hạnh phúc tinh thần cao thượng hay loại hạnh phúc không phải là trần tục,
anh ta sẽ có thể kiểm tra được những khao khát khoái cảm của chính anh ta
tốt hơn. Anh ta thích được hưởng cảm giác hạnh phúc cao thượng của tinh thần.
Về kỹ thuật, khi tâm đã định năm chướng ngại (nìvaranas, triền cái) được
khắc phục. Chúng là: một khao khát khoái lạc, hai là ác cảm, ác ý hay nóng
giận, ba là sự lười biếng, uể oải chẳng hạn như: ngủ gật, buồn ngủ, hôn trầm,
bốn là sự không nghỉ ngơi và tâm lúc nào cũng lang thang, lo lắng và hồi
hộp, năm là sự ngờ vực ( về sự luyện tập về khả năng có tập trung chưa ...).
Vì vậy, khi một người hành thiền đã tập trung, tâm sẽ vững vàng, kiên định
và năm chướng ngại được xem như là những trạng thái không tốt của tâm sẽ tự
nhiên biến mất. Khi chướng ngại này biến mất, tâm trở nên được tập trung.
Tâm không còn khao khát hay thèm muốn những thú vui khoái cảm trong khi
thiền định. Tâm không còn nóng giận hay ác cảm, không còn buồn ngủ hay uể
oải, bất an hay lo lắng hay nghi ngại. Do đó, tâm trở nên yên tịnh, thỏa mãn
và an lành. Trong sự yên tịnh này năm chi của sự thu hút (jhana, thiền-na)
phát sanh. Chúng là:
Vitakka: thường được hiểu như là nổ lực đầu tiên của tâm (Tầm). Ðiều này có
nghĩa là tâm đang đánh trúng mục tiêu, đang hướng đúng trực tiếp vào đề mục
của thiền định. Tâm không còn đi lang thang nữa.
Vicara: hay sự duy trì nổ lực của tâm (Tứ). Tức là tâm đang dán chặt vào đề
mục, trú ở đó, một trạng thái tác động ngắn nhưng liên tục của sự nhắc đi
nhắc lại của tâm, hay tác động lên đề mục. Vitakka lái tâm đi thẳng vào đề
mục trong khi vicàra tạo cho tâm tác động lên đề mục và trú ở đó.
Dẫn đến kết quả, Pìti (Phỉ) là sự sảng khoái của tinh thần sẽ phát triển.
Người hành thiền sẽ cảm giác dễ chịu, nhẹ nhõm. Anh ta tận hưởng những loại
cảm giác thích thú khác như là cảm giác rung cảm dễ chịu di chuyển khắp toàn
thân. Ðôi khi anh ta có cảm giác lâng lâng Pitì như: tay chân bất chợt giơ
lên, nâng lên hay giật giật hay cơ thể của anh ta bay lơ lửng.
Sukkha (Lạc), hay sự hạnh phúc cũng phát triển. Sukkha này giống như pitì
nhưng nhẹ nhàng tao nhã hay cao siêu hơn. Vì vậy khi Sukkha nổi lên thì loại
thô thiển pitì sẽ xẹp xuống và người hành thiền cảm thấy rất nhẹ nhàng dễ
chịu. Như trong kinh dạy nó là "cảm giác thoải mái lâu dài ngay tức thì".
Người hành thiền được mãn nguyện và thoải mái. Ở trạng thái này anh ta không
còn tham muốn những cảm giác khoái lạc mà bây giờ có thể được xem là thô
thiển và thấp hèn, nóng bỏng và kích động hơn là yên tĩnh và êm dịu giống
như là sự hạnh phúc trong thiền định với một tinh thần tráng kiện.
Ekaggata (Nhất tâm): sự chỉ định vào một đề mục của tâm. Cuối cùng giá trị
của ekaggata đã được phát sanh lên. Tâm trở nên kiên định và tĩnh, tập trung
vào một đề mục giống như là ngọn đèn rực cháy đều khi không có gió, hay
giống như đã được dính chặt vào trụ đá mà không thể nào lay chuyển. Người
hành thiền trải qua Ekaggata này có thể thấy rõ tâm anh ta đang kiên định và
trở nên tĩnh lặng, giống như trụ đá đã được chôn chặt không thể nào lay
chuyển. Năm yếu tố này cũng xuất hiện trong lúc đi vào thiền, thiền định xảy
ra trong khoảng chừng của năm thiền chi đó sẽ báo trước sự xuất hiện của
Thiền-na, Jhana.
Nhưng trong lúc đi vào trạng thái này người hành thiền vẫn không kiên định
và những chướng ngại vẫn có thể xâm phạm và làm rối loạn thiền. Tuy nhiên
khi tâm đạt được năm tầng thiền-na thì năm yếu tố trở này trở nên vững chắc
và những chướng ngại vật hoàn toàn bị biến mất. Vì vậy khi có được thiền-na
thì người hành thiền ít có khả năng bị gián đoạn và những người hành thiền
bây giờ có thể định tâm trong vòng năm, mười, hai mươi, ba mươi phút, một
tiếng đồng hồ hay có thể xuyên suốt nhiều ngày mà không hề bị một bất cứ rối
loạn nào của những ngại vật.
Anh ta có thể giữ được trạng thái này bao lâu sẽ tuỳ thuộc vào kỹ năng trong
lúc luyện tập của anh ta và sức mạnh thiền định (samadhi). Thậm chí khi có
sự gián đoạn xảy ra anh ta có thể dễ dàng hồi phục lại sự tập trung của anh
ta bằng cách tiếp tục rải tâm từ. Ðiều này được nêu trong Chú giải rằng đối
với một người hành thiền tốt, khi mất đi năm thiền chi vì vài lý do không
đáng anh ta có thể phục hồi lại nó mà không hề gặp khó khăn gì .
Mettabhavana (thiền từ bi) là một phần của thiền brahma-vihara (tứ phạm trú)
bao gồm tình yêu thương (Mettà), lòng thương cảm (karuna), niềm vui của lòng
vị tha (mudita) và sự bình thản (upekkha): từ bi hỷ xả. Theo Visuddhi Magga
(Thanh Tịnh Ðạo), người hành thiền có thể đạt được ngay ba tầng thiền-na đầu
với đề mục tình yêu thương (Mettà), lòng thương cảm(karuna) và niềm vui của
lòng vị tha (mudita), trong khi đó tứ thiền có thể đạt trong đề mục sự bình
thản (upekkha).
Ðể trau dồi những yếu tố thu hút này có những bài tập luyện đã liệt kê trong
Visuddhi Magga. Nhưng vì thời gian không cho phép để chúng tôi liệt kê những
bài tập luyện ở đây. Tuy nhiên , một người hành thiền rải tâm từ dựa theo
bốn dòng công thức mà chúng tôi đã đề cập đến ở phần trên có thể đạt được
mức thiền định tốt. Nếu anh ta luyện tập chăm chỉ và thường xuyên anh ta có
thể đạt được năm sự thu hút ở ngay trong trạng thái tĩnh. Hoặc sự tập luyện
của anh ta sẽ là nền tảng cho sự phát triển của thiền-na sau này. Như chúng
tôi đã thảo luận ở những phần trước, nguyên tắc cơ bản trong sự phát triển
thiền là phải ngăn chặn không cho năm chướng ngại vật đến gần và năm yếu tố
thu hút phải trở nên mạnh mẽ và phát sanh.
V. Người hành thiền nên rải tâm từ bao lâu?
Câu trả lời là: - Càng lâu càng tốt. Trong lúc tập trung nổ lự luyện
tập người hành thiền rải tâm từ suốt ngày và đêm, trong lúc ngồi hay đi và
thậm chí trong những sinh hoạt hàng ngày như: ăn, tắm, giặt... người hành
thiền có thể tập trung luyện tập suốt nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng.
Nhưng hầu hết mọi người không có khả năng tập trung nổ lực để luyệp tập. Họ
có thể luyện tập hết mức tối đa của họ. Bạn có thể rải tâm từ mười phút đến
một giờ đồng hồ sau mỗi buổi sáng thức dậy. Thậm chí rải tâm từ trong vòng
năm phút thôi cũng còn tốt hơn là không có rải tâm từ. Trong khi tiếp tục
công việc theo lề lối hằng ngày của bạn. Bạn có thể rải tâm từ mọi lúc, mọi
nơi. Bạn có thể rải nó trong lúc bạn đi bách bộ đâu đó, trong lúc bạn ở
phòng làm việc, công xưởng, trong lúc ăn, tắm... Rải tâm từ bằng cách niệm
trong đầu theo bốn dòng công thức thì rất đơn giản vàø cuối cùng tâm từ sẽ
đến rất dễ dàng và êm ả. Sau một ngày làm việc mệt nhọc đến chiều tối hoặc
quá nửa đêm, bạn có thể rải tâm từ theo qui cách trong tư thế ngồi trầm lặng.
Khi bạn đi ngủ cũng có thể rải tâm từ cho đến khi bạn ngủ.
Khi một người một hành thiền thường xuyên luyện tập anh ta sẽ cảm thấy dễ
chịu và cuối cùng anh ta không thể trợ giúp nhưng tràn đầy thiện chí với tất
cả mọi người. Anh ta sẽ không hề nuôi oán giận hay hận thù, anh ta cũng sẽ
không hề có những ước ao, khao khát được có tất cả. Người đó cũng sẽ không
dễ dàng nổi giận hay phát cáu. Anh ta sẽ trở nên kiên nhẫn và có lòng khoan
dung hơn. Ðó là thành quả tuyệt vời của luyện tập. Tất cả chúng ta nên có
thói quen rải tâm từ Mettà. Chính Ðức Phật đã hàng ngày rải tâm từ Metta và
Ngài cũng đã khuyên những môn đồ của Ngài hãy làm như vậy.
Rải tậm từ Metta là phương cách tốt để giữ cho tâm được trong sạch, lành
mạnh. Tâm chúng ta thường đi lang thang khắp mọi nơi, phản ứng với sự tham
lam, giận dữ, sự lừa dối, lo lắng, băn khoăn ... Nhưng khi chúng ta đang rải
tâm từ tức là chúng ta đang thay thế suy nghĩ không lành mạnh bằng suy nghĩ
lành mạnh, trong sạch. Nhờ vậy tâm của chúng ta trấn tĩnh và trở nên tập
trung một cách dễ dàng trong lúc chúng ta làm bất cứ việc gì. Sự phiền rối
đã bị kiềm chế và vì lý do này sẽ dẫn đến tâm của chúng ta ít lo âu và hoàn
thành công việc hàng ngày một cách hiệu quả hơn.
VI. Rải tâm từ đến chính bản thân ta.
Như đã đề cập ở phần trên, khi bạn bắt đầu thực hành thiền rải tâm từ Mettà
bạn có thể rải tâm từ đến chính bản thân bạn bằng cách niệm ngắn gọn bốn
dòng:
- Hãy thư giản cố gắng thoát ra khỏi sự tổn hại và nguy hiểm.
- Thư giản để thoát ra khỏi sự đau đớn của tinh thần.
- Thư giản để thoát ra khỏi sự đau đớn của thể xác.
- Ðể cho chính bản thân mình được hạnh phúc.
Tuy nhiên, chúng ta không cần rải lâu bằng cách này, vì nó mới chỉ là điểm
khởi đầu của luyện tập của bạn. Có lẽ bạn niệm lại những dòng này khoảng
mười phút hoặc chỉ vài phút khi bạn bắt đầu ngồi. Sau đó bạn có thể thay đổi
để ban rải đến kẻ khác, hãy nghĩ rằng bạn ước muốn những điều tốt đẹp đến
với chính bản thân bạn thì cũng ước muốn nó đến với tất cả các chúng sanh.
Sau đó bạn có thể rưới rải hoàn toàn tâm từ đến chính bản thân bạn và ngay
lập tức ban rải tâm từ đến kẻ khác nghĩa là bạn cũng ước muốn họ cũng hạnh
phúc giống như bạn.
Trong Visuddhi Magga có dạy rằng người hành thiền không bao giờ có được
thiền-na bằng việc rải tâm từ đến chính bản thân anh ta. Vì vậy, ban rải đến
chính bản thân anh ta chỉ là mục đích lấy chính bản thân anh ta làm ví dụ
điển hình mà thôi. Với suy nghĩ đó anh ta ước muốn mọi điều tốt đẹp đến với
anh ta thì cũng sẽ đến với mọi chúng sanh. Nó giúp đỡ đánh thức ý thiện chí
và niềm khao khát mang đến sự dồi dào sức khỏe và hạnh phúc cho kẻ khác.
Những phương thức rải tâm bác ái khác
Thêm vào phương pháp rải tâm bác ái thông thường đến tất cả chúng sanh,
người hành thiền cũng có thể rải tâm bác ái một cách cụ thể rõ ràng đến một
người nhất định nào đó hay một nhóm người. Anh ta có thể rải tâm bác ái đến
một người bạn, một người đồng nghiệp, một người bề trên, một người thầy, một
người vợ hay một người chồng đến một người mình yêu, họ hàng, cha mẹ, con
cái...
Bất cứ nơi nào anh ta cũng có thể là người rải tâm bác ái, luôn luôn nghĩ
rằng: Nguyện cho tất cả chúng sanh xung quanh ta thoát khỏi sự tổn hại và
nguy hiểm... người hành thiền có thể rải tâm bác ái đến những nhóm cụ thể
chẳng hạn như đến tất cả những giống cái (như những động vật, côn trùng,
những thức thể thuộc về giống cái) những giống đực, đến với tất cả ariyas (những
bậc cao thượng đắc thành những vị thánh), anariyas (những người bình thường
đắc thành những vị thánh), đến với tất cả nhân loại, chư thiên (devas) và
đến tất cả những chúng sanh apàya (những ai đang chịu sự đau khổ trong hoàn
cảnh thương đau của địa ngục, thế giới súc sanh, hồn ma và ác quỷ).
Người hành thiền có thể rải tâm bác ái đến tất cả các hướng, đến tất cả
chúng sanh trong hướng đông, nam, tây, bắc, đông bắc, tây bắc, đông nam, tây
nam, trong hướng trên, hướng dưới. Anh ta có thể rải tâm bác ái dựa theo
từng vùng, từng địa điểm, chẳng hạn đầu tiên đến tất cả chúng sanh ở trong
nhà, sau đó hướng ra ngoài đến những nhà hàng xóm, quận, tỉnh, thành phố,
đất nước, thế giới và cả vũ trụ .
Như đã thấy chúng ta có thể luyện tập nhiều bài tập khác nhau trong khi hành
thiền Mettà. Ðó là bài luyện tập thật sự lý thú. Trong Visuddhi Magga, sự
luyện tập để trau dồi thiền-na bắt đầu bằng sự rải tâm bác ái đấn từng các
cá nhân, chẳng hạn như: đầu tiên người hành thiền rải tâm bác ái đến người
yêu sau đó đến người mình yêu nhất rồi đến người không quen biết và tiếp đến
kẻ thù (là người luôn hằn hộc, chống đối mình).
Ở phương pháp này, vì người hành thiền chỉ đang bắt đầu khởi điểm xem từng
cá nhân như là một đề mục cho nên điều này chắc chắn sẽ không phù hợp để rải
tâm bác ái đến một thành viên khác phái vì sẽ có những sự nguy hiểm của sự
khao khát khoái lạc và nhục dục phát sinh lên và tâm ô nhiễm bệnh tật, chỉ
nên để tâm trong sạch phát sanh khi hành thiền Mettà . Nhưng khi người hành
thiền đang rải tâm bác ái đến tất cả chúng sanh nghĩa là bao gồm hiển nhiên
cả giống cái và giống đực. Vì bước khởi đầu của sự trau dồi jhana khi người
hành thiền chọn từng cá nhân, anh ta không nên chọn người khác phái. Nhưng
sau cùng khi anh ta trở nên quen thuộc, thông suốt với luyện tập thì không
có lý do gì để anh ta không thể chọn người khác phái, và mục đích bây giờ là
đang rải tâm từ Mettà chớ không phải để trau dồi Thiền-na.
Vì Mettà là tình yêu và điều này sẽ không có ý nghĩa nếu như chúng ta không
thể thực hiện ban rải tình yêu này đến cha mẹ, ông bà của chúng ta hay người
chồng hoặc người vợ và con cái vì họ thuộc người khác giới. Vì thế người
hành thiền nên hiểu rằng bài luyện tập hướng dẫn trong Visuddhi Magga chỉ
xem là sự trau dồi tập trung các thiền na, khi đó hãy thận trọng không nên
chọn một thành viên khác giới.
Tuy nhiên, ở giai đoạn sau này, người hành thiền có thể rải tâm từ đến bất
cứ người nào, nếu không thì thiền Mettà sẽ không là Mettà, nếu nó không làm
được việc chứa đựng, bao gồm tất cả, vượt qua mọi hàng rào trở ngại và không
có sự phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính ... Nhưng khi nào người hành
thiền thực hiện rải tâm từ đến một thành viên khác giới dựa trên nền tảng cá
nhân, dù sao đi nữa anh ta cũng nên cảnh giác sự xâm nhập của khao khát
khoái lạc và nhục dục. Như chúng tôi đã nói chỉ để trau dồi Jhana (thiền-na),
người hành thiền không nên chọn một thành viên khác giới dựa trên nền tảng
cá nhân.
Visuddhi Magga cũng chỉ rằng người hành thiền không nên rải tâm từ đến một
người chết vì anh ta không có khả năng tập trung khi hành thiền. Khi một
người đã chết, anh ta đã chuyển, tái sinh vào thế giới mới và nó đã được xem
như là một người chết, không là một đề mục thích hợp cho sự trau dồi Jhana
trong hành thiền Mettà.
Nhưng chúng ta cũng có thể thực hiện, nếu chúng ta không đang luyện tập vì
mục đích đạt được năm sự thu hút jhana và sự tập trung dài, nhưng chỉ vì để
rải tâm từ Mettà, suy nghĩ theo cách này: "Hãy tưởng tượng rằng, cho dù bây
giờ anh ta được tái sanh trong thế giới nào cũng thoát khỏi sự tổn hại và
nguy hiểm... ". Theo suy nghĩ của tôi, làm điều này sẽ không có tổn hại khi
tâm luôn trong sạch, mong muốn mọi điều tốt đẹp đến với kẻ khác.
VII. Luyện tập chánh niệm và ban rải lòng yêu thương Metta.
Luyện tập lòng yêu thương Metta và chánh niệm có thể là sự kết hợp hùng mạnh.
Ví dụ: trong cuộc sống hàng ngày chúng ta có thể chánh niệm cáng nhiều càng
tốt vào những hoạt động hàng ngày và những trạng thái tinh thần thay vì để
cho tâm chúng ta bay nhảy đây đó. Sau đó đôi lúc chúng ta cũng có thể xen
lẫn giữa chánh niệm với rải tâm từ Mettà bằng cách này tâm của chúng ta sẽ
được giữ trong sạch và lành mạnh hơn. Với sự luyện tập ban rải lòng yêu
thương Mettà và chánh niệm. Chúng ta sẽ tập trung nhiều hơn vào những công
việc hàng ngày. Chúng ta sẽ ít lo âu và sống vui vẻ, thoải mái hơn.
Khi ngồi hành thiền, người hành thiền nên tìm sự cân bằng giữa luyện tập
thiền Mettà và thiền vipassana (minh sát và chánh niệm). Thiền vipassana cho
chúng ta trí tuệ và hiểu biết của sự tạm bợ trong khi đó Mettà là vấn đề
samatha và vì vậy chỉ có thể mang lại trạng thái yên tĩnh. Vì vậy người hành
thiền không nên xao lãng hành thiền vipassana.
Lúc đầu, người hành thiền học thiền Mettà, dĩ nhiên anh ta cần phải có nhiều
thời gian để tập trung luyện tập nó. Nhưng sau khi anh đạt được một số kỹ
năng và tiến bộ trong luyện tập, anh ta nên cân bằng nó với thiền vipassana.
Nó giúp người hành thiền tìm thấy sự cân bằng ở chính anh ta. Ví dụ: anh ta
có thể hành thiền Mettà một vài phút sau đó chuyển sang thiền vipassana.
Hoặc nếu anh ta ngồi hành thiền Mettà vào buổi sáng thì buổi chiều anh ta có
thể hành thiền vipassana.
Cuối cùng, nó giúp người hành thiền tìm thấy trạng thái cân bằng tốt. (Theo
sự hướng dẫn của thiền vipassana, người bắt đầu hành thiền có thể tham khảo
trong quyển: "Mời đến thiền định Vipassana trong đó có giảng giải về những
nguyên tắc và những lợi ích của chánh niệm, và những bài hướng dẫn thiền căn
bản và đơn giản cũng được trình bày trong đó).